Không ngừng tỏa sáng mối quan hệ hữu nghị, tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào
Thủ tướng Chính phủ nước CHDCND Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản và Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam Phạm Văn Đồng ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa hai nước, Viêng Chăn, ngày 18/7/1977. (ảnh: tư liệu)

Cuối năm 1976 đầu năm 1977, Cộng hòa Dân chủ Nhân Lào đứng trước tình hình an ninh chính trị, chủ quyền lãnh thổ bị đe dọa bởi các thế lực đế quốc, phản động khu vực và các thế lực phản động trong nước. Trước tình hình đó, theo yêu cầu từ phía Lào, Quân tình nguyện và Chuyên gia Quân sự Việt Nam một lần nữa trở lại Lào giúp bạn. Tiếp nối tinh thần “giúp nhân dân nước bạn là mình tự giúp mình” [2], “từ giữa năm 1976, Việt Nam đã cử hàng trăm chuyên gia và một sư đoàn quân tình nguyện Việt Nam đến các tỉnh trọng điểm, địa bàn xung yếu cùng với quân đội Lào đập tan các âm mưu, ý đồ chống phá, gây bạo loạn của Mỹ và các thế lực thù địch, thu hồi lại nhiều địa bàn quan trọng ở vùng rừng núi của Lào, nhất là ở các tỉnh: Xiêng Khoảng, Bô-li-khăm-xay, Luông Pha Băng, Viêng Chăn, khu vực biên giới giáp một số tỉnh miền Trung Việt Nam; bảo đảm được an ninh trên các trục đường giao thông chiến lược như đường 7, 9, 13...; hạn chế được các hoạt động thâm nhập từ bên ngoài, ngăn chặn kịp thời một số vụ âm mưu kích động bạo loạn ở các vùng dân tộc, nhất là vùng đông người Mông, góp phần tích cực bảo đảm và củng cố an ninh - quốc phòng, ổn định cuộc sống của nhân dân, xây dựng đất nước Lào” [3].

Bên cạnh đó, dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, quân đội ta còn giúp Bạn xây dựng cơ sở kinh tế, hậu cần kỹ thuật; đồng thời giúp Quân đội nhân dân Lào đào tạo một đội ngũ cán bộ đông đảo, thông qua các hình thức đưa sang học tập tại các học viện, nhà trường quân đội, hoặc cử chuyên gia quân sự Việt Nam sang giúp các nhà trường quân sự của Lào về tổ chức, chương trình, nội dung, giáo án, giảng dạy... Đánh giá về sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam đối với cách mạng Lào, nguyên Tổng Bí thư, nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước CHDCND Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản khẳng định: “Trong mọi sự thành công của cách mạng Lào, đều có sự đóng góp trực tiếp của cách mạng Việt Nam, trên mỗi chiến trường của Tổ quốc Lào thân yêu, đều có xương máu của các chiến sĩ quốc tế Việt Nam hòa lẫn với xương máu của chiến sĩ và nhân dân các bộ tộc Lào” [4].

Quân tình nguyện Việt Nam giã gạo giúp nhân dân Lào. (ảnh: tư liệu)

Quân tình nguyện Việt Nam giã gạo giúp nhân dân Lào. (ảnh: tư liệu)

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quan hệ Việt Nam - Lào bước sang giai đoạn phát triển mới - giai đoạn thúc đẩy hợp tác toàn diện giữa hai nước. Hai bên đã ra Tuyên bố chung Việt Nam - Lào (5/2/1976), ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa CHXHCN Việt Nam và CHDCND Lào (18/7/1977), Hiệp ước hợp tác quân sự giữa CHXHCN Việt Nam và CHDCND Lào (22/7/1977) và Hiệp ước phòng thủ chung giữa hai nước (22/9/1977). Kể từ khi hai nước ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác đến nay, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào liên tục có những bước phát triển, nâng lên tầm cao mới, ngày càng đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả thiết thực, to lớn cho cả hai nước.

Việc trao đổi đoàn cấp cao giữa hai Đảng, hai Nhà nước được tiến hành thường xuyên, tạo điều kiện để hai bên trao đổi kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau trong công tác lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Sự hợp tác, giao lưu hữu nghị giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và các địa phương, nhất là các địa phương có chung đường biên giới, đặc biệt là giữa nhân dân và thanh thiếu niên hai nước được chủ động tăng cường, với nhiều nội dung, hình thứ đa dạng, phong phú đã mang lại hiệu quả thiết thực, tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác nhiều mặt, làm cho quan hệ hai bên càng thêm gắn bó.

Không chỉ là những người bạn “chí nghĩa, chí tình” giúp Lào trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Việt Nam còn sát cánh, chia sẻ giúp Bạn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Trong những năm qua, việc tăng cường, thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực kinh tế ngang tầm với quan hệ chính trị và tiềm năng của hai nước rất được quan tâm, chú trọng. Nội dung, hình thức hợp tác ngày càng được mở rộng, đa dạng và phong phú. Đến nay, Việt Nam tiếp tục nằm trong tốp ba nước dẫn đầu về đầu tư vào Lào với hơn 400 dự án, tổng số vốn trên 5 tỉ USD. Các dự án đầu tư của Việt Nam tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực mà Lào có nhu cầu và được Chính phủ Lào khuyến khích như: nông lâm nghiệp, thủy điện, khai khoáng, giao thông vận tải, dịch vụ viễn thông... Các dự án đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện ở Lào đã góp phần làm thay đổi cơ cấu và thúc đẩy nền kinh tế Lào phát triển, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người dân, được Chính phủ Lào, chính quyền và nhân dân các địa phương đánh giá cao. Một số dự án đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam được triển khai nhanh, bước đầu có hiệu quả tích cực như: Dự án trồng cây cao su của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai tại Nam Lào; các dự án trồng và chế biến cao su của Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam và Công ty Cao su Đắk Lắk; dự án về phát triển dịch vụ viễn thông của Tập đoàn viễn thông Quân đội Viettel...

Trong lĩnh vực thương mại, hai bên đã ký nhiều thỏa thuận, ban hành các chính sách, cơ chế có tính ưu tiên, ưu đãi cao làm cơ sở pháp lý và tạo thuận lợi cho tăng cường trao đổi hàng hóa. Kim ngạch thương mại hai chiều trong những năm qua tăng liên tục, năm 2011 đạt 734 triệu USD. Việt Nam đã vươn lên trở thành bạn hàng lớn thứ ba của Lào về thương mại. Hai bên đang phấn đấu để đến năm 2015 đạt 2 tỉ USD.

Xác định hợp tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước là lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược lâu dài, vì vậy Đảng và Nhà nước hai bên đã hết sức quan tâm, coi trọng. Hai nước đã ký kết và triển khai “Đề án nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác Việt - Lào trong lĩnh vực giáo dục và phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 - 2020”. Mỗi năm, Việt Nam dành cho Lào từ 600 - 700 suất đào tạo ngắn hạn và dài hạn. Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến cuối năm 2013, đã có hơn 6.000 cán bộ, học sinh Lào tham gia học tập tại Việt Nam; trong đó, có hơn 2.000 người do Chính phủ Việt Nam cấp học bổng và gần 500 lưu học sinh Lào đang học theo học tại các trường đại học tại Việt Nam. Nhiều cơ sở đào tạo nguồn nhân lực do Việt Nam giúp xây dựng trên đất nước Lào đã và đang phát huy tốt tác dụng.

Khởi công xây dựng Trường PTDT nội trú tỉnh Hủa Phăn (nước CHDCND Lào) bằng nguồn vốn viện trợ của Chính phủ Việt Nam giành cho Chính phủ Lào. (ảnh: baosonla.org.vn)

Khởi công xây dựng Trường PTDT nội trú tỉnh Hủa Phăn (nước CHDCND Lào) bằng nguồn vốn viện trợ của Chính phủ Việt Nam giành cho Chính phủ Lào. (ảnh: baosonla.org.vn)

Hợp tác về an ninh - quốc phòng giữa hai nước được triển khai tốt trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt về huấn luyện, đạo tạo cán bộ. Công tác xây dựng hệ thống bảo vệ an ninh - quốc phòng đạt nhiều kết quả. Hai bên đã ký Hiệp định Họp tác hàng năm và 5 năm, phối hợp bảo đảm vững chắc ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội ở mỗi quốc gia, ngăn chặn có hiệu quả âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Tình hình biên giới Việt Nam - Lào cơ bản ổn định, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới được giữ vững, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc giới quốc gia được triển khai theo đúng kế hoạch, phấn đấu xây dựng xong tất cả số mốc giới còn lại trên toàn tuyến biên giới và hoàn thành dự án vào năm 2014. Thực hiện chủ trương tăng cường liên kết kinh tế vùng miền, một số cửa khẩu quốc gia đã được nâng cấp thành cửa khẩu quốc tế, nhằm tạo điều kiện cho việc giao thương, phát triển kinh tế giữa hai nước.

Những năm gần đây, sự phối hợp và hợp tác trong lĩnh vực đối ngoại giữa hai nước liên tục được tăng cường và đạt hiệu quả cao. Trao đổi thông tin, kinh nghiệm trong các hoạt động song phương, đa phương; tham khảo ý kiến, phối hợp với nhau trong các vấn đề liên quan ASEAN, ASEM, Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết cũng như các diễn đàn quốc tế khác được tiến hành thường xuyên. Hai bên cũng chú trọng trao đổi kinh nghiệm về hội nhập quốc tế và khu vực, kinh nghiệm tham gia các chương trình hợp tác đa phương; phối hợp giữa ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia trong triển khai Tam giác phát triển; trao đổi thông tin, tham khảo ý kiến trong việc thực hiện các dự án hành lang Đông-Tây, hợp tác tiểu vùng sông Mê Công...

Nét mới trong quan hệ giữa hai nước là ngoài các tỉnh có chung biên giới, quan hệ hợp tác trực tiếp giữa các tỉnh, thành của hai nước trong thời gian qua được mở rộng khá nhanh và mang lại nhiều hiệu quả thiết thực. Các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà nẵng; một số tỉnh có tiềm lực kinh tế mạnh như Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Đồng Nai, Bình Dương và cả một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã có quan hệ hợp tác với nhiều địa phương của Lào. Nhiều chương trình hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa được triển khai; nhiều chương trình phúc lợi công cộng do các địa phương Việt Nam giúp các địa phương Lào được hoàn thành nhanh chóng, đi vào hoạt động rất hiệu quả, đang trở thành kênh hợp tác có ý nghĩa quan trọng, góp phần làm cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào thấm sâu vào mọi tầng lớp nhân dân và lan tỏa rộng khắp trên phạm vi cả hai nước.

Thời gian sẽ qua đi, song những cống hiến của Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào mãi mãi là niềm tự hào, là di sản vô giá của nhân dân hai nước, hai dân tộc Việt Nam - Lào, một mẫu mực cho quan hệ quốc tế trong sáng, thủy chung. Nói về mối quan hệ truyền thống Lào - Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHDCND Lào Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn khẳng định: “Mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào là mối quan hệ thủy chung và trong sáng, đã trở thành tài sản vô giá, hiếm có trên thế giới ngày nay và trở thành nhân tố quyết định cho thắng lợi của cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, là quy luật sống còn cho sự phát triển của hai dân tộc Lào - Việt Nam” [5].

Kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào là dịp để chúng ta cùng ôn lại truyền thống, tri ân, tưởng nhớ sự đóng góp to lớn của cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã tham gia chiến đấu, công tác và thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả giúp Lào; đồng thời cũng là dịp để Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước tiếp tục khẳng định sự nhất quán, thủy chung và nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau phải luôn coi trọng, làm hết sức mình để không ngừng củng cố, phát triển và làm sâu sắc hơn mối quan hệ hữu nghị, truyền thống lâu đời, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Việt Nam và Lào, vì lợi ích của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.

[1] Trích phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước CHDCND Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, 12/1976.

[2] Theo Liên minh chiến đấu chống thực dân, đế quốc xâm lược (1945-1975), Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007), Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, tr. 58.

[3] Theo Đảng Nhân dân Cách mạng Lào-Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007), Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, tr. 561.

[4] Cay-xỏn Phôm-vi-hản, Xây dựng một nước Lào hòa bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự Thật, H.1978, tr.183 - 184.

[5] Theo Mối quan hệ Lào - Việt Nam ngày càng trở nên thiêng liêng, được nâng niu, bảo vệ, gìn giữ và vun đắp tươi đẹp, Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007), Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, tr. 11.

Phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Xem nhiều nhất